MỘT CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GẮN LIỀN LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN
01/06/2010 07:26
Trong chương trình đào tạo sau đại học ngành Quản lý truyền thông, Đại học Công nghệ Sydney (UTS), kiến thức lý thuyết và thực hành luôn được lồng ghép trong mỗi một môn học. Các kiến thức và kỹ năng thực hành luôn được xây dựng dựa trên những hiểu biết đầy đủ về kiến thức lý thuyết. Từ đó sinh viên có thể áp dụng các kiến thức lý luận vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp trong lĩnh vực truyền thông
Khác với khóa học cùng ngành tại các trường đại học danh tiếng khác trong khu vực bang New South Wales như khóa học Quan hệ công chúng chiến lược (Master of Strategic Public Relations, Đại học Sydney (UNSD)) hay khóa Quan hệ công chúng và Quảng cáo (Master of Public Relations and Advertising, Đại học New South Wales (UNSW)) đều kéo dài một năm, khóa học Quản lý truyền thông tại UTS kéo dài một năm rưỡi với việc sắp xếp 3 môn học một kỳ đã làm giảm áp lực học căng cho sinh viên. Khóa học có 72 đơn vị học trình trong đó 48 đơn vị học trình dành cho 6 môn học bắt buộc chiếm 48 đơn vị học trình, một môn tự chọn chiếm 8 đơn vị học trình và 2 môn lựa chọn có hoặc không làm việc với dự án chiếm 16 đơn vị học trình.
6 môn học chính bắt buột bao gồm: Managing communication, Communicating with Publics, Organisational Communication Management, Managing Public Communication Strategies, Cross-cultural and International Communication, Research for Communication Professionals. 4 môn học tự chọn (electives) là Strategic Communication and Negotiation, Communication Management Case Studies, Inventive Media Advertising, Media Relations.
Môn học lựa chọn có làm dự án là Professional Communication Project (16 đ/v) hoặc Investigating Professional Communication và Professional Industry Review. Môn học lựa chọn không làm dự án là Communication Management Case Studies và một trong 4 môn electives.
Nhìn chung, các môn học tập trung nâng cao cả kiến thức lý thuyết lẫn thực hành cho sinh viên, tuy nhiên kiến thức thực hành chiếm đa số trong tổng số phần trăm học phần môn học. Mỗi môn học đều có 2 đến 3 bài tập tiểu luận (chỉ duy nhất môn Managing communication là có bài kiểm tra cuối kỳ chiếm 40% học phần môn học). Bài tiểu luận đầu tiên thường chiếm 40% học phần và tập trung giải quyết các vấn đề lý thuyết của môn. Bài tiểu luận 2 chiếm 60% đòi hỏi học viên phải biết áp dụng những kiến thức lý thuyết và thực hành để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn về truyền thông. Đối với môn có 3 bài tập, bài tập thứ 2 thông thường là bài nhóm và bài thứ 3 là bài thuyết trình của nhóm trước lớp.
Tùy từng môn học khác nhau nên yêu cầu bài tập và trọng tâm kiến thức được chú trọng ở mức độ khác nhau. Ví dụ: môn học về nghiên cứu truyền thông sẽ chú trọng kiến thức và kỹ năng làm nghiên cứu. Trong khi đó, môn học về quản lý các chiến dịch truyền thông công chúng lại chú trọng những hiểu biết về việc lập kế hoạch cho các chiến dịch truyền thông, mục tiêu, mục đích, công chúng, chiến lược, chiến thuật, thông điệp và kênh thông tin nào được sử dụng để thực hiện chiến dịch truyền thông đó.
Tuy nhiên, việc thiết kế các bài tập nhấn mạnh tính thực hành của môn học không chỉ dừng lại ở phạm vi đánh giá của các giảng viên bộ môn. Một điều đặc biệt khiến chương trình đào tạo này có sự khác biệt so với các chương trình đào tạo cùng ngành ở các trường khác đó là sự cộng tác của giảng viên bộ môn với các công ty bên ngoài hoặc các cơ quan báo chí để thiết kế bài tập đánh giá và kiểm tra kiến thức và kỹ năng của sinh viên. Lấy ví dụ môn học Quảng cáo sáng tạo trên các phương tiện thông tin đại chúng - Inventive Media Advertising. Bài tập của sinh viên là lên ý tưởng và thiết kế một chiến dịch quảng cáo cho Coca Cola nhấn mạnh yếu tố truyền thông có đạo đức và trách nhiệm xã hội của Coca Cola trong việc xử lý và tái chế các phế phẩm của công ty trước khi thải ra môi trường. Các nhóm sinh viên lần lượt trình bày các ý tưởng cho đại diện của Coca Cola và nhóm có ý tưởng xuất sắc nhất sẽ được mời tới Coca Cola để trình bày cho các nhà quản lý truyền thông của công ty. Họ cũng nhận được một phần thưởng nhất định khuyến khích cho công sức và ý tưởng độc đáo của mình. Lợi thế của dạng bài tập này là sinh viên có cơ hội được rèn luyện các kỹ năng lên ý tưởng, thiết kế chiến dịch và trình bày ý tưởng của mình với đại diện truyền thông một công ty danh tiếng. Trong khi đó, tổ chức hoặc công ty đó cũng có cơ hội thu thập được nhiều ý tưởng quảng cáo sáng tạo và đồng thời nhấn mạnh được mối quan hệ với nhà trường và sinh viên để đạt một trong những mục tiêu trong chiến dịch quan hệ công chúng của mình.
Đối với môn Quan hệ với báo chí - Media Relations, một trong những bài tập thực hành đó là thiết kế một chiến dịch quan hệ công chúng sử dụng quan hệ báo chí như một phần chiến lược trong toàn bộ chiến lược truyền thông của chiến dịch đó. Sinh viên không những phải nêu ra được mục tiêu của toàn bộ chiến dịch mà còn phải chỉ rõ mục tiêu, mục đích của chiến lược quan hệ báo chí là gì, từ đó phải chỉ rõ kênh truyền thông nào, thông điệp nào được vận dụng để tiếp cận nhóm công chúng nào nhằm đạt được mục tiêu đề ra của chiến lược quan hệ với báo chí. Sinh viên cũng được yêu cầu viết thông cáo báo chí, chuẩn bị gói thông tin truyền thông cho báo giới. Đặc biệt, một cuộc phỏng vấn giả tưởng sẽ được tiến hành trước ống kính máy quay giữa một nhà báo truyền hình với sinh viên, trong vai trò đại diện truyền thông hoặc lãnh đạo của tổ chức, về những vấn đề xoay quanh chiến dịch đó. Bài tập này cũng sẽ được nhà báo cộng tác viên và giảng viên đồng thời đánh giá và đưa ra kết quả nhận xét.
(Nguyễn Thị Minh Hiền - Trích tham luận hội thảo PR từ giảng đường tới thị trường )