Bài giảng của giáo viên

Đào tạo báo chí tại Đức

02/03/2010 23:50

Giáo sư Hans-Peter Rodenberg, trường Đại học Tổng hợp Hamburg Đức, sắp đến giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Dưới đây là lược dịch 1 trong 3 bài giảng" của giáo sư Rodenberg dành cho sinh viên Học viện.

Đào tạo nghề báo ở Đức 

Lịch sử nghề báo

Khái niệm nghề  báo chuyên nghiệp được biết tới từ thế  kỷ 17 và có mối liên hệ chặt chẽ  tới khái niệm “công cầu” – một khái niệm rộng về việc trao đổi thông tin tại các lĩnh vực về chính trị, xã hội và kinh tế. 

 

Vào năm 1456, nhà  phát minh Johannes Gutenberg đã phát minh ra chiếc máy đánh chữ cầm tay. Chính phát minh này của ông đã  đánh dấu một mốc thay đổi lớn trong lịch sử ngành báo với sự ra đời của sách in. Các tạp chí  ra đời sau đó ít lâu với ấn phẩm đầu tiên là tờ “Mercurius Gallobelgicus” bằng tiếng Latin được xuất bản vào năm 1594 tại Cologne, Đức. Tuy nhiên, trào lưu xuất bản tạp chí lại xuất hiện ồ ạt tại Anh khởi đầu với tờ Oxford Gazette (sau này là “London Gazette” vẫn tồn tại cho tới ngày nay) vào năm 1665 và sau đó vào năm 1702, tờ nhật báo đầu tiên Daily Courant ra đời. Cùng lúc đó, chính phủ Anh đã ra luật Báo chí, yêu cầu các nhà xuất bản phải ghi rõ địa chỉ và tên dưới mỗi tác phẩm in ấn. 

 

Mặc dầu có  một khởi đầu từ khá sớm nhưng việc  đào tạo nghề báo lại mới chỉ bắt đầu. Trước đây, các nhà báo mới vào nghề thường học nghề theo cách rút kinh nghiệm từ những người đi trước – phương thức đào tạo giống như đào tạo những người thợ thủ công tại các xưởng dệt. 

 

Trên thực tế, mãi cho tới những năm đầu tiên của thế kỉ 20 những trường đào tạo nghề báo đầu tiên mới ra đời và Mỹ là quốc gia dẫn đầu trong việc đào tạo nghề này với trường Báo chí Missouri được thành lập vào năm 1908, trực thuộc trường Đại học Missouri. Vào năm 1916, Học viện Khoa học báo chí trực thuộc địa học Leipzip, Đức mới được thành lập.  

 

Ngày nay, tại  Đức, chúng tôi có một hệ thống 3 chương trình đào tạo nghề báo song song, đó là:

 

1. Đào tạo phóng viên thông qua học việc, không yêu cầu bằng cấp

 

2. Các trường đào tạo báo chí tư do các công ty truyền thông hoặc các nhà xuất bản thành lập. Hệ thống giáo dục này cũng chủ yếu yêu cầu học viên có các kĩ năng trong nghề và một chút đào tạo chính thống.

 

3. Các trường đại học báo chí yêu cầu học viên đạt được đầy đủ các yêu cầu về nghiên cứu khoa học và được đào tạo ở cấp bậc đại học.

 

Có thể các bạn sẽ thắc mắc tại sao lại phân ra thành 3 chương trình đào tạo mà không thống nhất thành một chương trình duy nhất. Thứ nhất, ở các nước phương Tây, báo chí là một trong những quyền lực quản lý xã hội (quyền lực thứ 4). Quyền tự do ngôn luận luôn được đề cao, cho phép mỗi công dân đều có quyền in ấn và xuất bản các ấn phẩm theo quan điểm của riêng mình. Thứ hai, mặc dù nghề báo cũng yêu cầu được đào tạo bài bản theo chương trình đại học nhưng một trong những yêu cầu thiết yếu để trở thành một phóng viên giỏi là năng khiếu. 
 
Đào tạo qua thực tiễn
 

 

Chúng ta hãy cùng bắt đầu với chương trình đào tạo qua thực tiễn, mỗi tờ báo hay các nhà sản xuất lớn đều có các chương trình đào tạo thực tập viên với hy vọng chiêu mộ được các nhân tài trẻ làm việc cho mình. Các chương trình đào tạo thường kéo dài từ 2 tới 3 năm, trong thời gian này các học viên sẽ làm việc và học tập dưới sự giám sát của một nhân viên trong công ty. Qui trình đào tạo phổ biến nhất là các học viên sẽ giành nửa thời gian đầu để làm việc ở tất cả các bộ phận khác nhau sau đó – trong nửa thời gian cuối, họ sẽ được lựa chọn làm việc ở một bộ phận nhất định. 

 

Cho tới những năm 1980, các chương trình đào tạo thực tập viên theo kiểu này sẽ được bắt đầu ngay sau khi các học viên tốt nghiệp trung học, tuy nhiên ngày nay chương trình này lại yêu cầu các học viên phải là sinh viên đại học năm thứ 2 hoặc thứ 3. Các thí sinh theo học các chuyên ngành nhân văn, xã hội, khoa học chính trị, kinh tế hoặc một số ít bao gồm cả các sinh viên chuyên ngành tự nhiên sẽ được lựa chọn để tham gia chương trình này. Nói cách khác, các thực tập sinh ngành báo tại Đức phải là những sinh viên sắp tốt nghiệp từ các trường đại học. 

 

Đào tạo qua các trường tư thục

 

Ngoài chương trình đào tạo trên, sinh viên vẫn còn cơ hội được đào tạo các kĩ năng nghề báo thông qua các trường tư. Những trường đào tạo này được đầu tư bởi ngành công nghiệp báo chí. Trước đây, những trường này thường chỉ đào tạo chuyên ngành báo in nhưng ngày nay, với sự phát triển rầm rộ của báo mạng, các chương trình đào tạo cũng được đa dạng hóa với các kĩ năng cơ bản về báo hình, báo phát thanh và báo mạng. 
 
 
Đào tạo qua các trường đại học
 

Thực tiễn đã chứng minh rằng những nhà báo, nhà biên tập xuất sắc nhất đều xuất thân từ các trường đại học báo chí. Đối với cả chương trình đào tạo trước và sau đại học, chất lượng đào tạo nghề báo tại các trường đại học vẫn là tốt nhất. Tại đây, các sinh viên sẽ có cơ hội phát triển các kĩ năng nghề nghiệp đồng thời trau dồi thêm kiến thức về mọi mặt của cuộc sống và mọi yếu tố để trở thành một nhà báo giỏi. Hiện nay, xã hội đòi hỏi các nhà báo là chuyên gia “giải mã” được các sự kiện phức tạp theo ngôn ngữ có thể khiến đa số người dân thường hiểu được. 

 

Trong những mục tiếp theo, tôi sẽ giới thiệu qua về các chương trình học của sinh viên báo chí. Qua đó, các bạn sẽ có được khái niệm chung về nghề báo. Tại mỗi trường đại học, các sinh viên lại được tiếp nhận những chương trình đào tạo khác nhau, tuy nhiên các sinh viên báo chí đều phải tham gia môn học chung – gọi là “Publizistik” trong tiếng Đức có nghĩa là môn “Khoa học xã hội” – với nội dung phổ biến các kiến thức căn bản về tâm lý học và kinh tế. 

 

Nghiên cứu về  truyền thông đại chúng

 

Trong các nghiên cứu về truyền thông, truyền thông đại chúng là một chuyên ngành đối lập với truyền thông cá nhân (VD: một cuộc nói chuyện cá nhân). Chi tiết hơn, truyền thông đại chúng bao gồm ngành Quan hệ công chúng, Quảng cáo và Internet. Đặc biệt, với sự ra đời của mạng Internet, định nghĩa về truyền thông đại chúng đã chuyển sang các chương trình tương tác giữa nhà sản xuất, các diễn viên với người xem. Trên thực tế, với mỗi hoàn cảnh cụ thể, phương pháp truyền thông đại chúng lại đóng những vai trò khác nhau. 

 

Lý  thuyết của truyền thông đại chúng

 

Thông thường, có nhiều cách tiếp cận lý thuyết về truyền thông đại chúng, như:

 

- Phương pháp trực tiếp: Các lý thuyết đầu tiên về khoa học truyền thông nhìn nhận phương pháp truyền thông đại chúng là cách tiếp cận duy nhất từ những nhà truyền thông tới công chúng.

 

- Phương pháp đa phương diện: Sau đó, người ta đã nhận thấy cách tiếp cận thẳng duy nhất đã bỏ sót quá nhiều bình diện, cách tiếp cận đa phương diện đã được áp dụng. Cách tiếp nhận này không chỉ nhìn nhận người tiếp nhận thông tin là đối tượng của hệ thống truyền thông mà còn là mục tiêu của nhiều nhân tố khác. Kết quả là các nhân tố căn bản khác của phương pháp truyền thông đại chúng đã trở nên ngày càng đa dạng. Hiện nay phương pháp truyền thông đa dạng đã trở thành cách truyền thông căn bản của các nghiên cứu về truyền thông

 

- Lý thuyết về  mối liên hệ giữa truyền thông cá nhân và  truyền thông đại chúng: sự tác động qua lại giữa biện pháp truyền thông cá nhân (giữa hai người hay một nhóm người) với truyền thông đại chúng (thông qua báo đài) chính là chủ đề nghiên cứu của lý thuyết này. Thêm vào đó, các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành dưới nhiều quan điểm khác nhau đồng thời dưới sự lan rộng của các ý tưởng mới.

 

- Phương pháp tiếp nhận hay lý thuyết về kết quả: Phương pháp này được kết hợp bởi 3 lý thuyết khác nhau: hiệu quả truyền thông được đánh giá thông qua mức độ hài lòng của người tiếp nhận, giả thuyết của những người tiếp nhận tích cực và lý thuyết của mối quan hệ tương tác. Cách tiếp cận này được đánh giá dựa trên mức độ hài lòng của người tiếp nhận. Số lượng các kênh truyền thông được sử dụng ít hay nhiều đánh giá trực tiếp mức độ hài lòng của người tiếp nhận – đây cũng là lý do phương pháp này có tên gọi “lý thuyết về kết quả”. Đây là cách tương tác giữa người tiếp nhận truyền thông và các kênh truyền thông. Hiện nay, đây đang là phương pháp đánh giá hiệu quả truyền thông hiệu quả nhất.

 

- Phương pháp hệ thống: trong tương quan của thuyết kếu cấu, phương pháp này không những áp dụng được cho cá nhân mà còn cho cả hệ thống. Kết quả là các định nghĩa về “cá nhân làm báo” đã được thay thế bởi định nghĩa về “Nhà báo”.

 

- Xu hướng tạo dựng dựa trên ý nghĩa sâu xa con người rút ra được từ những bài học kinh nghiệm của mình. Những người theo thuyết tạo dựng cổ điển sẽ phủ nhận khả năng nhìn nhận được ý nghĩa sâu xa của con người thông qua “sự thật hiển nhiên”. Tuy nhiên, theo phương pháp này, truyền thông có thể mang lại những định nghĩa về thực tế, vì vậy khả năng nhận định thế giới của con người là hoàn toàn có thể.

 

- Thuyết phê  phán: Hầu hết các học thuyết trên đều bắt nguồn từ các học thuyết của 2 giáo sư Max Horkheimer and Theodore W, Adorno của trường Frankhurt. Nhiều người đã nhìn nhận lại học thuyết của Habermas về hoạt động truyền thông. Các nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa mối liên hệ chủ thể và điều kiện sản xuất: Ai sở hữu nhà xuất bản nào? Ai quản lý các phóng viên? Truyền thông ảnh hưởng tới nhận thức xã hội như thế nào? Có mối liên hệ gì giữa các công ty truyền thông và các tổ chức khác, ví dụ như một đảng phái chính trị? Học thuyết này đã chỉ trích rằng các ngành khoa học truyền thống không giải quyết các vấn đề liên quan tới xã hội mà họ đang tự cho mình quyền hành tự do được điều khiển vì mục đích của riêng mình.

 

- Lý thuyết về phản nhận thức: Lý thuyết này được bắt nguồn từ các cách tiếp cận tâm lý, các yếu tố khiến cho người tiếp nhận truyền thông thay đổi quan điểm và làm giảm hiệu của truyền thông. Tâm lý con người nói chung luôn mâu thuẫn giữa những gì họ tin tưởng và những gì các phương tiện truyền thông tuyên truyền. Ví dụ như trong các cuộc bầu cử, người ta chỉ thích nghe các kênh truyền thông tuyên truyền cho đảng của mình. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng bị phê phán vì đã bỏ qua yếu tố “tò mò” của con người. 

 

Các lĩnh vực nghiên cứu

Công thức Lasswell minh họa đầy đủ nhất các lĩnh vực nghiên cứu  đa dạng của truyền thông:

1. Ai nói

2. Nói gì

3. Qua kênh truyền thông nào

4. Nói với ai

5. Ảnh hưởng như thế nào

 

Bằng công thức này, các lĩnh vực nghiên cứu truyền thông có thể được chia ra thành:

1. Nghiên cứu trong khuôn khổ hàn lâm hay trong các tổ chức lớn

2. Nghiên cứu trong mối quan hệ công chúng

3. Nghiên cứu dựa trên nội dung truyền thông

4. Nghiên cứu dựa trên phân tích truyền thông

5. Nghiên cứu dựa trên việc sử dụng kênh truyền thông

6. Nghiên cứu dựa trên kết quả truyền thông

 

 

Nghiên cứu trong khuôn khổ hàn lâm hay trong các tổ chức lớn

 

Phương pháp này  được xem xét dựa trên các nhà truyền thông trong mối tương quan với tổ chức truyền thông. Câu hỏi được đặt ra là: Các phóng viên, nhân viên công chúng có quan điểm gì, động lực gì, mối quan tâm gì, phương pháp giáo dục gì? Liệu họ có hoàn toàn được tự do đưa ra ý kiến của mình không? Họ đã làm thế nào để đưa các quan điểm đó tới với công chúng? Họ quyết định như thế nào về chủ điểm và cách hiện diện của những quan điểm này? Lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới “nghiên cứu truyền thông” được gọi là “Nghiên cứu về nghề báo và Quan hệ công chúng” 

 

Nghiên cứu dựa trên nội dung truyền thông

 

Phương pháp này liên quan tới những nội dung được truyền thông và được chia ra thành

1. Các nội dung khách quan có thể nhận thấy là gì? Các mối quan tâm về con người, xã hội và chính trị ảnh hưởng tới nội dung này như thế nào? VD: Mối liên hệ giữa sự thật và sự thật được phản ảnh qua báo chí

2. Sự tồn tại và tính chất của các kênh truyền hình thực tế. Vd:  “Simulacri” của Jean Baudrillard

3. Câu hỏi về nội dung truyền thông: tại sao lại chọn sự kiện này mà không phải là cái khác?

4. Chiến lược của các nhà sản xuất và các nhà truyền thông

5. Sự khác biệt giữa các thế hệ công chúng

 

Nghiên cứu dựa trên phân tích truyền thông

 

Phương pháp này  được xem xét dựa trên những trung gian. VD: Thứ rằng buộc vật trung gian là sự điều hòa hay các kênh truyền thông chính là giới hạn của trung gian 

 

Nghiên cứu dựa trên việc sử dụng kênh truyền thông

 

Nghiên cứu này mô  tả thành phần khán giá và động lực, chất lượng cũng như tính chất của việc sử dụng kênh truyền thông: Các mô tả về nhân khẩu học và tâm lý học nhận định được về độc giả tới đâu? Các độc giả dành bao lâu hoặc bao nhiêu phần trăm mối quan tâm cho các kênh truyền thông? 

 

Nghiên cứu dựa trên hiệu quả truyền thông

 

Phương pháp này là  một phát hiện khoa học về hiệu quả của truyền thông đại chúng. Nó nghiên cứu từng cá thể về khía cạnh vật thể và cảm xúc, đồng thời cũng nghiên cứu về quan điểm công chúng nói chung. 

 

Nhiều nghiên cứu về truyền thông và phương thức truyền thông đại chúng có phần khó phân biệt. Câu hỏi đạt ra là nghiên cứu nào mang tính tương tác nhiều hơn, sử dụng hiệu quả hơn trong ngôn ngữ và trong đời sống con người. 

 

Nghiên cứu về  phương thức truyền

Nghiên cứu này chủ  yếu xem xét về các vấn đề truyền thông công cộng. Phương pháp này đã có một nền tảng sâu rộng trên các bình diện ngôn ngữ và nhân loại học với các nghiên cứu về âm nhạc, điện ảnh… Khác với nghiên cứu truyền thông – chủ yếu dựa trên mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và xã hội, nghiên cứu về phương thức truyền thông lại chủ yếu dựa trên các phân tích về chất lượng truyền thông (VD: việc sử dụng âm nhạc, hình ảnh trong truyền thông). Các lĩnh vực nghiên cứu chính của phương pháp này là phân tích về truyền thông, lý thuyết truyền thông và lịch sử truyền thông. Trong suốt thời kỳ đầu, chủ đề chính của phương pháp này chính là tính mỹ thuật của phim ảnh. Ngày nay, chủ đề của phương pháp này đã được mở rộng ra các lĩnh vực về truyền thình, truyền thanh và mạng Internet 
 
 
Nghiên cứu về nghề báo
 

Các nghiên cứu này chủ yếu xem xét yếu tố về các nhà truyền thông, cơ cấu và dịch vụ truyền thông, xem xét hệ thống báo chí dựa trên lý thuyết về nghề báo bởi đây chính là một nhánh của khoa học truyền thông. Chủ điểm của phương thức này là sự tương tác giữa khoa học và thực tiễn. Kết quả là phương pháp nghiên cứu này mang tính chất kết hợp giữa thuần lý thuyết và thực tiễn. Ví dụ như trong thực tế, các sinh viên báo chí thường tìm cơ hội thực tập ở các cơ quan truyền thông. Mục đích của việc này là nhằm thực hành những gì các sinh viên đã được học trên lý thuyết với thực tế. Đây là khác biệt cơ bản nhất giữa những học viên được đào tạo chính thức tại các trường đại học và các học viên học báo thông qua chương trình thử việc.

 

Lĩnh vực nghiên cứu:

Lịch sử phát triển ngành báo

- Thực hành báo (nghiên cứu, kĩ năng viết bài)

- Cách phát triển tác phẩm truyền thông

- Các tính năng đặc biệt của nghề báo trong các ngành báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng

- Ảnh hưởng của truyền thông tới công chúng

- Các định nghĩa về truyền thông trong xã hội (Quyền lực thứ tư)

 

Nhiều vấn đề của thuyết nghiên cứu này thuộc phạm vi của nghiên cứu Truyền thông. Tuy nhiên, không phải mọi nội dung của truyền thông đại chúng đều là nội dung của nghiên cứu báo chí. Nghiên cứu về báo chí khác với nghiên cứu về truyền thông bởi lẽ nó không nghiên cứu các vấn đề giải trí (VD: chương trình serie truyền hình hay các show truyền hình)

 

Tại Đức, nghiên cứu về Báo chí được giảng dạy tại các trường Dortmund, Eichstätt, Hamburg, Leipzig và Mainz. Môn học này cũng được giảng dạy như một môn khoa học thực hành tại các trường đại học. 

 

Mặc dù tại Đức hiện vẫn còn tồn tại một số nhỏ các nhà báo trưởng thành từ các chương trình đào tạo thử việc tuy nhiên phần lớn còn lại đều có nền tảng giáo dục về truyền thông đại chúng một cách chính thống, hoặc kết hợp cả nền tảng giáo dục này với các kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn. 

 

Chương trình đào tạo ngành truyền thông bậc đại học của Đại học Tổng hợp Hamburg

 

Đào tạo đại cương

( kỳ 1 tới kỳ 3)

Giới thiệu về  Khoa học truyền thông

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần)

(Thuyết truyền thông cơ bản)

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần) 

(Lý thuyết nghiên cứu khoa học truyền thông)

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần)

Khám phá

(kỳ 2 tới kỳ 4)

Các phân tích về  truyền thông và định nghĩa về phương thức truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 tiếng/tuần

Lịch sử  truyền thông

(Lên lớp + thảo luận)

4 tiếng/tuần

Lý  thuyết về truyền thông và  phương thức truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 giờ/tuần

Các phương thức thực hành truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 giờ/tuần

Đào tạo chuyên sâu

(kỳ 3 tới kỳ 6)

Truyền thông và  Văn hóa hay Truyền thông và xã hội

(thảo luận + lên lớp)

4 tiếng/tuần

Kiểm tra

(kỳ 6)

Hội thảo chuyên  đề (1 tiếng/tuần) + chuyên đề tốt nghiệp (30 trang trong 8 tuần) + Thi vấn đáp (30 phút)
 

Chương trình đào tạo ngành truyền thông bậc cao học của Đại học Tổng hợp Hamburg

 

Khởi đầu (kỳ 1 tới kỳ 3 – tổng cộng 4 kỳ/5 kỳ)Lý  thuyết truyền thông

4 giờ/tuần

Phim

(Lên lớp+ thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Truyền hình

(Lên lớp+ thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

  Đài phát thanh

(Lên lớp+ thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Báo mạng

(Lên lớp+ thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Chuyên sâu

(kỳ  3)

Phim tài liệu/ Phóng sự

(3 buổi thảo luận + học kèm)

Tổng cộng 6 giờ/tuần

Giải trí/Tiểu thuyết

(3 buổi thảo luận + học kèm)

Tổng cộng 6 giờ/tuần

Kiểm tra (kỳ  4) Hội thảo chuyên đề (1 tiếng/tuần) + chuyên đề tốt nghiệp (80 trang trong 5 tháng) + Thi vấn đáp (45 phút)

 



Share |

Hỗ trợ trực tuyến

BÌNH CHỌN

  • Bạn quan tâm đến khóa học nào của chúng tôi?

  • PR cơ bản ngắn hạn

  • PR chuyên sâu ngắn hạn

  • Đại học chuyên ngành PR

  • Đại học PR, quảng cáo, truyền thông chương trình quốc tế của Đại học Middlesex tại Học viện BCTT

  • Cao học PR

  • Đại học chuyên ngành quảng cáo- Marketing

  •